|
Ông Nguyễn Thanh Hà, Giám đốc
Phân tích kinh tế, SSI đã chia sẻ với ĐTCK về những dự cảm liên quan đến
các vấn đề trên.
Tổng
cục Thống kê vừa công bố mức tăng CPI tháng 3 là 0,75% so với tháng 2, thấp
hơn mức dự báo của nhiều chuyên gia trước đó, nhưng vẫn cao so với các năm
trước. Ông đánh giá như thế nào về mức tăng này và diễn biến CPI trong các
tháng tiếp theo?
CPI trong tháng 3 tăng đạt mức
0,75% so với tháng trước và tính bình quân quý I/2010 tăng 8,51% so với
cùng kỳ năm 2009. Đáng chú ý là giá lương thực trong tháng 3 giảm nhẹ so
với tháng 2, chủ yếu do giá gạo thế giới giảm, khiến trong 1 tháng qua,
Chính phủ đã thực hiện khuyến khích mua gạo dự trữ để tránh việc giảm giá
gạo cho người nông dân.
Yếu tố tăng giá của các nguyên
liệu đầu vào cơ bản như giá xăng dầu, than, điện đã phản ánh dần vào mức
tăng CPI với hiệu ứng vòng 1 lên các hàng hóa trực tiếp có nguyên liệu đầu
vào cơ bản bị tăng giá.
Với diễn biến của áp lực lạm
phát đã giảm, song vẫn còn ở mức cao, có 4 lý do khiến tôi cho rằng áp lực
lạm phát có thể sẽ tiếp tục duy trì ở mức độ vừa phải trong 2 tháng tới,
đạt đỉnh vào tháng 5 và sẽ đi ngang sau đó giảm dần cho cho đến quý IV.
Thứ
nhất là hiệu ứng vòng 2 của lạm phát
chi phí đẩy sẽ khiến áp lực lạm phát vẫn duy trì.
Thứ
hai là tăng trưởng tổng cầu được
kiềm chế bởi lãi suất tín dụng thực tế cao và tăng trưởng tín dụng chững
lại đáng kể do chính sách tiền tệ thận trọng của NHNN.
Thứ
ba là yếu tố tăng giá nguyên liệu
cơ bản mạnh trong thời gian tới do kỳ vọng lạc quan vào hồi phục kinh tế
thế giới cũng sẽ khó xảy ra, khi các chính sách tiền tệ thận trọng theo
hướng thắt chặt sẽ sớm được các nước lớn áp dụng, nếu kinh tế các nước đó
có dấu hiệu hồi phục khả quan.
Thứ
tư là Chính phủ có những biện pháp
mạnh để kiềm chế giá cả các hàng hóa cơ bản trong nước như xăng, dầu, điện
than, xi măng, sắt thép để đảm bảo mức biến động vừa phải.
Mục tiêu kiềm chế lạm phát CPI ở
mức dưới 7% trong năm nay cần được nhìn nhận một cách linh hoạt. Tôi cho
rằng, đạt được mức lạm phát 1 con số trong năm 2010 sẽ là một kết quả đáng
khích lệ trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều thách
thức.
Trước
diễn biến lạm phát như vậy, ông có cảm nhận gì về khả năng điều chỉnh chính
sách tiền tệ của NHNN trong thời gian tới, thưa ông?
4 - 5 tháng qua, thị trường tín
dụng đã thắt chặt mạnh hơn mức mục tiêu của NHNN khi áp dụng các biện pháp
kiểm soát tăng trưởng tín dụng. Có thể thấy, NHNN đã khá thận trọng khi bơm
tiền hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng trong các thời điểm có tính
mùa vụ cao như cuối năm và Tết, đồng thời chưa mạnh tay can thiệp để hạ
nhiệt mức lãi suất cho vay thực tế cao (từ 14 - 18%).
Theo tôi, việc một số tổ chức
quốc tế như WB, IMF… chỉ nhìn vào việc duy trì lãi suất cơ bản trong 4
tháng qua mà cho rằng, NHNN chưa có phản ứng thích hợp với lạm phát và cần
thắt chặt chính sách tiền tệ trong thời gian tới là chưa đánh giá được diễn
biến thực tế thắt chặt của thị trường tiền tệ tín dụng.
Vào lúc này, sẽ là phù hợp nếu
NHNN không thắt hơn nữa chính sách tiền tệ khi mà áp lực lạm phát có thể
sắp chạm đỉnh và mặt bằng lãi suất thực tế đang khá cao, kèm theo tăng
trưởng tín dụng vừa phải trong quý I ở mức 3,34%.
Nếu nhìn nhận rằng mức lãi suất
cho vay hiện tại phổ biến trong phạm vi 14 - 18%/năm là quá cao để đạt được
mục tiêu tăng trưởng 6,5% trong năm nay, chúng ta có thể sẽ chứng kiến động
thái nới lỏng thận trọng cung tiền để giảm lãi suất thực tế xuống của NHNN,
bắt đầu từ tháng 4 này.
Thông điệp từ NHNN sau kỳ họp
Chính phủ thường kỳ tháng 3 cho thấy, khả năng chính thức quay trở lại lãi
suất thỏa thuận cho hoạt động tín dụng với cả tín dụng ngắn, trung, dài hạn
là rất gần.
Động thái nới lỏng thận trọng
cung tiền của NHNN trong thời gian tới, nếu có, cũng không có gì thiếu nhất
quán với định hướng ổn định kinh tế vĩ mô, vì NHNN có thể đã hoàn thành cơ
bản việc thu lại chính sách tiền tệ nới lỏng đặc biệt trong năm 2009.
Liệu
có một cuộc đua lãi suất đầu vào, nếu lãi suất đầu ra được áp dụng cơ chế
thỏa thuận không? Ông nhìn nhận thế nào về khả năng hạ lãi suất cho vay
trong thời gian tới?
Việc giảm lãi suất thực tế là có
thể nếu nguồn vốn huy động từ dân cư vào hệ thống ngân hàng tăng và thanh
khoản VND của hệ thống ngân hàng duy trì ở mức dồi dào. Tăng trưởng huy
động vốn của hệ thống ngân hàng trong tháng 3 khá tích cực với mức tăng huy
động vốn VND khoảng 2%.
Với mức lãi suất thực tế bình
quân huy động của hệ thống ngân hàng là 11 - 12%, lãi suất tiền gửi thực
đang ở mức dương rõ rệt ngay cả khi tính đến kỳ vọng lạm phát 10% từ nay
cho đến cuối năm. Đây là yếu tố sẽ thúc đẩy khả năng tăng huy động của vốn
từ dân cư. Do đó, tôi không kỳ vọng về cuộc đua tăng lãi suất đầu vào nếu
lãi suất cho vay thỏa thuận được áp dụng rộng rãi.
Vào lúc này, sức cản lớn nhất để
hạ lãi suất thực tế xuống là chất lượng tín dụng trong năm 2009, khi mà
tăng trưởng tín dụng là gần 38%. Bên cạnh đó, cũng phải tính đến việc các
NHTM lại tìm cách tăng tín dụng dựa trên nguồn vốn thị trường 2 trong thời
gian tới dẫn tới khả năng căng thẳng thanh khoản sau đó.
Ngoài ra, việc phát hành các
công cụ nợ của Chính phủ với quy mô lớn trong năm nay cũng sẽ là lực cản
của mục tiêu duy trì thanh khoản hệ thống ngân hàng. Lực cản này có thể sẽ
được tháo gỡ khi Chính phủ xem xét việc NHNN có thể trực tiếp mua và đáo
hạn một số công cụ nợ ngắn hạn trong năm 2010.
Một yếu tố cũng có thể tác động
làm điều chỉnh giảm lãi suất là nhu cầu vay vốn của DN làm ăn tốt sẽ giảm
xuống rõ rệt nếu lãi suất cho vay duy trì ở mức 16 -18%, trong bối cảnh các
NHTM không còn quá chú trọng cho khách hàng vay với lãi suất cao do tính
chất rủi ro của các khoản vay này.
Tôi kỳ vọng mặt bằng lãi suất
cho vay bình quân 14 - 16% sẽ được hình thành trong 1 - 2 tháng tới. Ở mức
lãi suất này, các NHTM cũng có một chênh lệch đầu ra đầu vào đủ để hoạt
động có hiệu quả khi mặt bằng lãi suất đầu vào được duy trì ổn định.
Với
những dự cảm như trên, theo ông, TTCK sẽ có sự chuyển biến như thế nào?
Nếu chính sách tiền tệ ổn định
như dự đoán, thì các DN sẽ có thêm cơ hội tiếp cận với nguồn vốn từ ngân
hàng với chi phí vốn có thể kiểm soát được. TTCK vì thế có khả năng được hỗ
trợ về nguồn cung tiền và kết quả kinh doanh được dự báo là khả quan của
các DN, để hoạt động ổn định hơn trong trung và dài hạn.
Tường
Vi
|